Chính trị & Địa chính trị

Đối ngoại Việt Nam: Từ phá thế bao vây đến tự chủ chiến lược

Tóm tắt định hướng Bài viết mổ xẻ toàn diện hành trình tiến hóa tư duy đối ngoại của Việt Nam qua 40 năm Đổi mới, từ cục diện phòng thủ phá thế bao vây cấm vận đến bước ngoặt mang tính lịch sử tại Đại hội 14. Bằng việc đưa đối ngoại và hội nhập quốc tế lên vị trí "trọng yếu, thường xuyên" ngang tầm quốc phòng, an ninh, Đảng xác lập tầm nhìn tự chủ chiến lược và nâng cao sức mạnh nội sinh. Qua đó, bài viết chỉ rõ những điểm nghẽn thể chế, rào cản thực thi và đề xuất khung giải pháp chiến lược nhằm tái cấu trúc nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển bứt phá trong kỷ nguyên mới.
194
Quốc gia bang giao
38
Đối tác chiến lược / toàn diện
514 Tỷ USD
Quy mô GDP 2025
930 Tỷ USD
Kim ngạch Xuất nhập khẩu

Phần 1: Hành trình 40 năm đổi mới tư duy đối ngoại: Từ phá thế bao vây, cấm vận đến chủ động hội nhập toàn diện

1.1. Tiến trình tiến hóa tư duy qua các kỳ Đại hội: Khai thông cục diện "thêm bạn, bớt thù" và xác lập ngoại giao 3 trụ cột

Nhìn lại chiều dài lịch sử 40 năm Đổi mới kể từ năm 1986, tiến trình phát triển tư duy đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải một đường thẳng phẳng lặng, mà là một cuộc bứt phá tư duy biện chứng đầy bản lĩnh nhằm từng bước giải phóng đất nước khỏi những xiềng xích địa chính trị và tư tưởng hẹp hòi. Sau giai đoạn khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng cùng thế cô lập bao vây cấm vận nặng nề của thập niên 1980, nhận thức đối ngoại thời kỳ bao cấp vốn bị chi phối bởi góc nhìn giáo điều, ứng phó bị động và tư duy phân tuyến ý thức hệ cứng nhắc đã bộc lộ rõ sự bất cập, trở thành điểm nghẽn kìm hãm sức sản xuất và sự sinh tồn của dân tộc.

Bước ngoặt tư duy đầu tiên được xác lập tại Đại hội 6 (tháng 12/1986) khi Đảng thẳng thắn nhìn vào sự thật, đề ra chủ trương "sử dụng mọi khả năng để mở rộng quan hệ". Tinh thần đột phá này lập tức được thể chế hóa thông qua Nghị quyết số 13/NQ-TW ngày 20/5/1988 của Bộ Chính trị khóa 6 "Về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới". Đây được coi là "tuyên ngôn đối ngoại" thời kỳ Đổi mới, đánh dấu bước chuyển chiến lược từ đối đầu sang hòa hoãn, chuyển từ tư duy đóng cửa sang khai thông cục diện "thêm bạn, bớt thù", ưu tiên giữ vững môi trường hòa bình để phục hồi kinh tế.

Đến Đại hội 7 (năm 1991), với việc thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa 7 (tháng 6/1992), tư duy đối ngoại đã có bước tiến vượt bậc khi khẳng định chính sách "Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển". Sự mở rộng khái quát này được tiếp nối và hoàn thiện qua Đại hội 8 (năm 1996) với phương châm "đa dạng hóa, đa phương hóa" quan hệ đối ngoại, giúp Việt Nam phá vỡ hoàn toàn thế bao vây cấm vận, gia nhập ASEAN năm 1995 và bình thường hóa quan hệ với các nước lớn.

Đại hội Đảng Thời gian Bước chuyển lý luận đối ngoại cốt lõi
Đại hội VI 12/1986 Nhìn thẳng vào sự thật; chủ trương mở rộng quan hệ; Nghị quyết 13-NQ/TW (1988) - "Tuyên ngôn đối ngoại Đổi mới".
Đại hội VII & VIII 1991, 1996 "Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước"; Đa phương hóa, đa dạng hóa; gia nhập ASEAN (1995).
Đại hội IX & X 2001, 2006 Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác.
Đại hội XI & XII 2011, 2016 Nâng cấp lên "Hội nhập quốc tế toàn diện"; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định.
Đại hội XIII 2021 Xác lập "Nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với 3 trụ cột: Đối ngoại Đảng, Ngoại giao Nhà nước và Đối ngoại Nhân dân".
Đại hội XIV 2026 Đối ngoại là nhiệm vụ "trọng yếu, thường xuyên" ngang tầm Quốc phòng, An ninh; xác lập Tự chủ chiến lược.

Tư duy hội nhập tiếp tục có bước phát triển về chất trong lý luận qua các kỳ Đại hội sau đó. Đại hội 9 (năm 2001) chính thức đưa ra định hướng "chủ động hội nhập kinh tế quốc tế". Đại hội 10 (năm 2006) phát triển thành "chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác". Bước nhảy vọt diễn ra tại Đại hội 11 (năm 2011) khi Đảng nâng cấp từ "hội nhập kinh tế" sang "chủ động và tích cực hội nhập quốc tế" toàn diện trên mọi lĩnh vực từ chính trị, quốc phòng, an ninh đến văn hóa, xã hội. Đến Đại hội 12 (năm 2016) và đặc biệt là Đại hội 13 (năm 2021), lý luận đối ngoại Việt Nam đã đạt đến độ chín muồi khi xác lập mô hình "nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với 3 trụ cột: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân".

Tuy nhiên, mổ xẻ một cách đanh thép từ thực tiễn thực thi, tiến trình tiến hóa tư duy nói trên vẫn phải đối mặt với không ít rào cản hệ thống và lỗ hổng thể chế chậm được khắc phục: tâm lý ứng phó bị động ở một bộ phận cán bộ; sự phối hợp giữa 3 kênh đối ngoại còn mang tính cơ học; và sự e dè trong tiếp xúc với các thể chế khác biệt.

Thứ nhất, tư duy của một bộ phận cán bộ quản lý vẫn chưa thoát khỏi dư âm của tâm lý ứng phó bị động, coi công tác đối ngoại chỉ là hoạt động giao thiệp kỹ thuật thuần túy bên ngoài biên giới chứ chưa nhận thức đúng đắn đây là một thành tố hữu cơ của sức mạnh tổng hợp quốc gia. Thứ hai, sự phối hợp giữa 3 kênh đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân trong nhiều giai đoạn vẫn mang tính cơ học, thiếu một cơ chế điều phối liên thông, nhịp nhàng và có ràng buộc pháp lý chặt chẽ, dẫn đến tình trạng chồng chéo chức năng hoặc bỏ trống địa bàn. Thứ ba, rào cản tâm lý ngại tiếp xúc, e dè trong hợp tác với các quốc gia có thể chế chính trị - xã hội khác biệt đôi khi đã làm chậm nhịp độ nắm bắt cơ hội chiến lược, ảnh hưởng đến hiệu quả hội nhập thực chất của đất nước.

1.2. Ngoại giao cây tre và mạng lưới 38 đối tác chiến lược, toàn diện

Sự kết tinh của tư duy đối ngoại Đổi mới được thể hiện sinh động và súc tích nhất qua hình tượng "Ngoại giao cây tre" – một trường phái ngoại giao mang đậm bản sắc dân tộc: gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển.

Cấu trúc trường phái "Ngoại giao Cây tre Việt Nam"
GỐC VỮNG Nguyên tắc độc lập, tự chủ; lợi ích quốc gia - dân tộc trên hết và trước hết; đường lối đa phương hóa, đa dạng hóa.
THÂN CHẮC Tiềm lực kinh tế, quốc phòng vững vàng, bảo chứng bằng nguyên tắc chiến lược "Bốn không".
CÀNH UYỂN CHUYỂN "Dĩ bất biến, ứng vạn biến"; linh hoạt vận dụng cặp phạm trù lý luận "đối tác" và "đối tượng".

"Gốc vững" chính là nguyên tắc độc lập, tự chủ, lợi ích quốc gia - dân tộc trên hết và trước hết, cùng kim chỉ nam là đường lối đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế. "Thân chắc" là tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh và vị thế chính trị nội tại của đất nước, được bảo chứng bằng nguyên tắc chiến lược quốc phòng "Bốn không": không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước khác; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước thứ ba; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. "Cành uyển chuyển" đại diện cho nghệ thuật ứng biến linh hoạt, tinh thần "dĩ bất biến, ứng vạn biến", cùng việc vận dụng nhuần nhuyễn cặp khái niệm lý luận "đối tác" và "đối tượng" để nhận diện hợp tác và đấu tranh trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể.

Trường phái ngoại giao mang tính chiến lược này đã giúp Việt Nam gặt hái những thành tựu đối ngoại có ý nghĩa lịch sử. Tính đến nay, Việt Nam đã mở rộng quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn cầu. Đặc biệt, Việt Nam đã thiết lập mạng lưới đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 38 quốc gia, bao hàm toàn bộ 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, 7 nước công nghiệp phát triển hàng đầu (G7) và 17 trong số 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới (G20). Mạng lưới quan hệ rộng khắp này không chỉ tạo ra thế trận địa chính trị đan xen lợi ích vững chắc, mà còn đóng vai trò là "bệ đỡ" quan trọng cho những bước nhảy vọt về kinh tế. Đến năm 2025, quy mô GDP của Việt Nam đã đạt mốc 514 tỷ USD, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu bứt phá chạm ngưỡng 930 tỷ USD và thu hút thành công hơn 38,4 tỷ USD vốn FDI đăng ký. Mọi con số định lượng này là minh chứng đanh thép cho sức mạnh của một nền ngoại giao phục vụ phát triển.

Dù vậy, phân tích ở góc độ phê phán chiến lược, việc vận hành trường phái "Ngoại giao cây tre" trong bối cảnh địa chính trị biến động dữ dội hiện nay đang bộc lộ những rủi ro và giới hạn nguy hiểm nếu hệ thống quản trị không kịp thời khắc phục các lỗ hổng nội tại. Cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các cường quốc cùng xu hướng phân tách chuỗi cung ứng toàn cầu đang đẩy các quốc gia tầm trung vào thế giằng co rủi ro. Nếu nghệ thuật "linh hoạt ở cành lá" bị lạm dụng như một sự thỏa hiệp nhất thời hoặc thiếu đi sự nhất quán mang tính nguyên tắc, đất nước sẽ đối mặt với nguy cơ bị các bên hoài nghi về tính tin cậy chiến lược. Sâu xa hơn, triết lý "cành lá linh hoạt" chỉ thực sự phát huy tác dụng khi dựa trên một "gốc vững" là tiềm lực kinh tế nội sinh, công nghệ tự chủ và năng lực quốc phòng tự cường. Nếu nền kinh tế vẫn tiếp tục phụ thuộc quá lớn vào gia công xuất khẩu, phụ thuộc nguồn vốn và công nghệ bên ngoài mà thiếu đi năng lực sản xuất nội địa chất lượng cao, thì sự linh hoạt đối ngoại sẽ dễ rơi vào trạng thái bấp bênh, thụ động trước các đòn chèn ép kinh tế hoặc biến động từ bên ngoài.

Phần 2: Bước đột phá tư duy tại Đại hội 14: Đưa đối ngoại thành nhiệm vụ "trọng yếu, thường xuyên" và nâng tầm tự chủ chiến lược

2.1. Đột phá lý luận: Vị thế ngang tầm quốc phòng, an ninh và khái niệm "trọng yếu, thường xuyên"

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 14 của Đảng đánh dấu một bước ngoặt đột phá mang tính lịch sử trong sự tiến hóa lý luận đối ngoại của Việt Nam. Lần đầu tiên qua các kỳ Đại hội, nhiệm vụ đối ngoại và hội nhập quốc tế được đưa lên vị trí "trọng yếu, thường xuyên", đứng ngang tầm với hai nhiệm vụ cốt lõi là quốc phòng và an ninh. Sự thay đổi này không đơn thuần là một thủ pháp thuật ngữ trong Văn kiện, mà phản ánh một sự chuyển dịch tư duy chiến lược sâu sắc: khẳng định vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc bảo vệ Tổ quốc "từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy". Bằng việc đặt đối ngoại vào vị trí trụ cột thường trực của sức mạnh quốc gia, Đảng đã bóc tách bản chất của thời đại mới, nơi ranh giới giữa an ninh nội địa và biến động địa chính trị toàn cầu đã hoàn toàn bị xóa mờ.

Nền tảng lý luận đanh thép này được xác lập nhất quán trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 13 trình Đại hội 14, được cụ thể hóa tại Nghị quyết Đại hội 14 và Báo cáo chuyên đề của Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung ngày 07/02/2026 tại Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết Đại hội 14. Quyết sách này thừa nhận một thực tế khách quan rằng, trong một thế giới đa cực và phân mảnh dữ dội, bảo vệ độc lập, chủ quyền không thể chỉ dựa vào lực lượng vũ trang ở biên giới, mà phải bằng việc chủ động đan cài lợi ích, xây dựng sự tin cậy chiến lược và kiến tạo một môi trường quốc tế hòa bình từ trước khi xung đột có nguy cơ bùng phát.

Trong một thế giới đa cực và phân mảnh dữ dội, bảo vệ độc lập, chủ quyền không thể chỉ dựa vào lực lượng vũ trang ở biên giới, mà phải bằng việc chủ động đan cài lợi ích, xây dựng sự tin cậy chiến lược và kiến tạo một môi trường quốc tế hòa bình từ trước khi xung đột có nguy cơ bùng phát.

Tuy nhiên, mổ xẻ một cách công tâm từ thực tiễn vận hành, bước đột phá tư duy này đang phải đối mặt với những điểm nghẽn thể chế và rào cản nhận thức hết sức gay gắt. Thứ nhất, tư duy của không ít cán bộ quản lý ở các bộ, ngành và địa phương vẫn bị xơ cứng bởi thói quen cũ, coi đối ngoại chỉ là hoạt động giao thiệp kỹ thuật bên ngoài biên giới, "lễ tân đi lại" thuần túy chứ chưa nhận thức đúng đắn đây là một thành tố hữu cơ, trực tiếp cấu thành sức mạnh tổng hợp quốc gia. Thứ hai, hệ thống quản trị hiện hành vẫn thiếu hụt trầm trọng các cơ chế phối hợp liên ngành có tính pháp lý cao giữa ba lĩnh vực Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại. Tình trạng khép kín thông tin, thiếu sự chia sẻ dữ liệu chiến lược thời gian thực và sự đùn đẩy trách nhiệm trong xử lý các tình huống nhạy cảm địa chính trị đã làm giảm đi sức mạnh phòng ngừa rủi ro từ sớm. Khi ba trụ cột chưa vận hành như một cơ thể thống nhất, nhiệm vụ "trọng yếu, thường xuyên" sẽ đối mặt với nguy cơ bị hành chính hóa, làm suy giảm nghiêm trọng tính chủ động và bản lĩnh chiến lược của đất nước trước các biến động toàn cầu.

2.2. Bổ sung quan điểm "tự chủ chiến lược", "tự cường" và phát triển đối ngoại tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa

Cùng với việc nâng tầm vị thế đối ngoại, Đại hội 14 đã tạo ra một nấc thang tư duy mới khi chính thức bổ sung quan điểm "tự chủ chiến lược""tự cường" vào khung định hướng phát triển đất nước. Đây là sự kế thừa và nâng tầm sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về "tự lực cánh sinh" trong bối cảnh cục diện thế giới bị nghẽn bởi sự chèn ép của các cường quốc. Quan điểm này đặt ra yêu cầu mang tính mệnh lệnh: công tác đối ngoại không chỉ dừng lại ở việc giữ vững môi trường hòa bình, mà phải phục vụ trực tiếp cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế bứt phá đạt từ 10%/năm trở lên từ sau Đại hội 14. Đối ngoại phải trở thành lực lượng đòn bẩy để hiện thực hóa hai mục tiêu 100 năm của dân tộc:

Đường lối chiến lược này được thể chế hóa mạnh mẽ thông qua Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội 14 của Đảng, gắn liền với Nội dung 11 về đối ngoại trong Báo cáo chính trị. Tự chủ chiến lược khẳng định năng lực tự quyết của quốc gia, không bị cuốn vào vòng xoáy lôi kéo, ép buộc hay phụ thuộc vào bất kỳ trung tâm quyền lực nào. Để đạt được tầm vóc đó, đối ngoại Việt Nam được yêu cầu phải phát triển tương xứng với bề dày lịch sử, giá trị văn hóa và vị thế địa chính trị của đất nước, biến sức mạnh mềm văn hóa thành nguồn lực phát triển thực chất.

Dù vậy, phân tích ở góc độ phê phán chiến lược, việc hiện thực hóa quan điểm "tự chủ chiến lược" sẽ chỉ dừng lại ở những tuyên bố mang tính hình thức nếu hệ thống chính trị không triệt phá được các lỗ hổng nội tại. Nguy cơ lớn nhất hiện nay là sự phụ thuộc sâu sắc của nền kinh tế vào chuỗi giá trị và công nghệ bên ngoài. Nếu không tự chủ được năng lực sản xuất nội địa và công nghệ lõi, thì mọi sự "tự chủ" trên bàn đàm phán đối ngoại sẽ rất dễ bị tổn thương trước các đòn chèn ép kinh tế hoặc trừng phạt thương mại từ bên ngoài. Sâu xa hơn, tư duy quan liêu trong công tác ngoại giao văn hóa đang kìm hãm việc chuyển hóa nguồn lực lịch sử - văn hóa thành sức mạnh quốc gia. Nhiều địa phương và cơ quan quản lý vẫn nhìn nhận ngoại giao văn hóa bằng tư duy phong trào, tổ chức các sự kiện lễ hội tốn kém nhưng thiếu tính chiến lược, chưa biết cách đóng gói và thương mại hóa các giá trị văn hóa nghìn năm thành "tài sản vô hình" sinh lời, nâng tầm thương hiệu và uy tín địa chính trị của Việt Nam trên trường quốc tế.

Phần 3: Tái cấu trúc hội nhập kinh tế quốc tế: Gắn kết tự cường nội sinh với ngoại giao công nghệ và chuyển đổi số

3.1. Chuyển dịch mô hình hội nhập: Từ tranh thủ nguồn lực bên ngoài sang nâng cao năng lực nội sinh

Để khắc phục triệt để nguy cơ phụ thuộc sâu sắc vào chuỗi giá trị bên ngoài như đã cảnh báo ở các phân tích trước, hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn phát triển mới bắt buộc phải trải qua một cuộc tái cấu trúc mang tính bản lề: chuyển dịch dứt khoát từ tư duy "tranh thủ nguồn lực" thụ động sang chủ động củng cố năng lực tự cường nội sinh của nền kinh tế.

Nhìn lại bức tranh tổng thể, mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua vẫn lộ rõ tính dễ tổn thương và độ lệch cơ cấu nghiêm trọng. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tiếp tục giữ tỷ trọng áp đảo khi đóng góp hơn 70% tổng kim ngạch xuất khẩu và chiếm phần lớn giá trị sản xuất công nghiệp. Tuy nhiên, tính chất của dòng vốn FDI này chủ yếu vẫn dừng lại ở công đoạn gia công, lắp ráp thô, khai thác chi phí nhân công thấp và các ưu đãi về thuế quan, đất đai. Mối liên kết sinh thái giữa khối doanh nghiệp FDI và khối doanh nghiệp nội địa vẫn ở trong trạng thái lỏng lẻo; năng suất lao động xã hội cùng sức cạnh tranh tổng thể của nền kinh tế chưa đạt được những bước tiến tương xứng. Doanh nghiệp Việt Nam gần như bị đẩy ra ngoài các khâu mang lại giá trị gia tăng cao nhất trong chuỗi giá trị toàn cầu như nghiên cứu và phát triển (R&D), thiết kế kiểu dáng, phân phối thương mại và quản trị thương hiệu. Trong một bối cảnh quốc tế biến động phức tạp khi xu hướng bảo hộ thương mại trỗi dậy mạnh mẽ và cạnh tranh phân tách công nghệ diễn ra gay gắt, việc tiếp tục dựa vào mô hình gia công giá trị thấp sẽ đẩy nền kinh tế đối mặt với nguy cơ tụt hậu xa hơn, bị mắc kẹt ở tầng đáy của phân công lao động quốc tế.

Mổ xẻ ở góc độ thể chế, thực trạng trì trệ này bắt nguồn từ những điểm nghẽn hệ thống chậm được giải quyết trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thói quen thụ động trong quản lý đã tạo ra tâm lý ỷ lại vào thành tích thu hút FDI số lượng lớn mà buông lỏng các tiêu chí chất lượng và cơ chế bắt buộc về chuyển giao công nghệ. Nền kinh tế thiếu hụt nghiêm trọng các công cụ phòng vệ thương mại hiện đại, thiếu khuôn khổ pháp lý về kiểm soát an ninh dữ liệu, an ninh mạng để bảo vệ thị trường nội địa trước các đợt sóng thâu tóm hoặc hành vi cạnh tranh không lành mạnh từ các tập đoàn xuyên quốc gia. Dù Việt Nam đã chủ động ký kết và thực thi hàng loạt Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, nhưng nếu thể chế trong nước không kịp thời kiến tạo một nền tảng doanh nghiệp nội địa đủ mạnh, thì các ưu đãi thương mại sẽ chỉ làm giàu cho các chủ thể nước ngoài, trong khi doanh nghiệp trong nước dần bị teo tóp ngay trên sân nhà.

Trực diện trước thách thức đó, Văn kiện Đại hội 14 của Đảng (Tập 1 và Tập 2) cùng Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới đã xác định bước đột phá tư duy: hội nhập kinh tế không còn là việc mở cửa đơn thuần, mà là phương thức để gia tăng sức mạnh nội sinh. Mọi cam kết quốc tế phải trở thành sức ép cải cách thể chế bên trong, buộc khối doanh nghiệp nội địa phải tự đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản trị và tối ưu hóa năng suất lao động. Hội nhập chỉ thực sự thành công khi xây dựng được một nền kinh tế độc lập, tự chủ, có khả năng chống chịu cao trước các cú sốc địa chính trị và biến động thị trường toàn cầu.

3.2. Ngoại giao công nghệ và đột phá lực lượng sản xuất mới

Bước sang kỷ nguyên mới, khi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang tái cấu trúc toàn diện lực lượng sản xuất toàn cầu, ngoại giao kinh tế không thể tiếp tục vận hành theo các phương thức xúc tiến thương mại truyền thống. Định hướng chiến lược tại Đại hội 14 của Đảng đã đặt ngoại giao công nghệ vào vị trí trọng tâm đột phá, biến công tác đối ngoại thành chiếc cầu nối trực tiếp phục vụ 4 cuộc chuyển đổi lớn của đất nước:

  1. Chuyển đổi số: Kiến tạo hạ tầng dữ liệu và kinh tế số quốc gia.
  2. Chuyển đổi xanh: Đáp ứng các tiêu chuẩn phát thải và chuỗi cung ứng bền vững.
  3. Chuyển đổi năng lượng: Đảm bảo an ninh năng lượng và phát triển năng lượng tái tạo.
  4. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng: Dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo và năng suất tổng hợp.

Theo Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội 14, ngành ngoại giao được giao nhiệm vụ tiên phong đi trước mở đường, tập trung mọi nguồn lực đối ngoại để thu hút các dòng vốn FDI chất lượng cao vào 11 nhóm công nghệ chiến lược. Trọng tâm hàng đầu là các ngành công nghiệp mũi nhọn định hình thế giới trong tương lai như sản xuất chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ lượng tử, robot - tự động hóa, năng lượng hạt nhân và năng lượng tái tạo. Đồng thời, công tác đối ngoại phải tích cực đàm phán, kiến tạo các khuôn khổ hợp tác quốc tế để phục vụ mục tiêu xây dựng 2 trung tâm tài chính quốc gia mang tầm vóc khu vực và toàn cầu. Đây chính là những trụ cột vật chất cốt lõi để tái thiết lực lượng sản xuất mới, tạo đòn bẩy trực tiếp thúc đẩy nền kinh tế đạt mục tiêu tăng trưởng bứt phá từ 10%/năm trở lên từ sau Đại hội 14, đưa Việt Nam vươn lên nấc thang phát triển mới.

Nếu hệ thống thể chế không đột phá mạnh mẽ trong việc thí điểm chính sách (sandbox) và thu hút, trọng dụng nhân tài công nghệ, mọi thỏa thuận ngoại giao sẽ chỉ dừng lại ở những bản ghi nhớ hình thức, không thể chuyển hóa thành giá trị gia tăng cho đất nước.

Tuy nhiên, phân tích sâu dưới góc độ phê phán thực thi, việc hiện thực hóa tham vọng ngoại giao công nghệ đang vấp phải sự đứt gãy nghiêm trọng giữa nhu cầu công nghệ nội địa và năng lực kết nối của hệ thống đối ngoại. Bộ máy ngoại giao hiện hành chưa thoát khỏi sự cồng kềnh, thiếu hụt lực lượng chuyên gia đối ngoại chuyên sâu am hiểu về công nghệ cao, sở hữu trí tuệ và tài chính số. Sự phối hợp giữa ngành ngoại giao với các bộ, ngành kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp trong việc chủ động săn đón, ngắt kết nối hay hấp thụ các chuỗi công nghệ tiên tiến vẫn mang tính vụ việc, thiếu một hệ thống cơ sở dữ liệu chiến lược được chia sẻ thời gian thực.

Sâu xa hơn, rào cản lớn nhất nằm ở điểm nghẽn thể chế nội địa. Việt Nam đang thiếu hụt nghiêm trọng các cơ chế thử nghiệm chính sách có kiểm soát (sandbox) đối với các mô hình kinh tế số, tài sản mã hóa và các ứng dụng AI mới. Sự chậm trễ, e dè trong việc ban hành khung pháp lý thử nghiệm đã vô tình dựng lên rào cản ngăn cản các tập đoàn công nghệ toàn cầu rót vốn R&D hoặc chọn Việt Nam làm bệ phóng sáng tạo. Song song đó, tình trạng khủng hoảng thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao trong các ngành công nghệ mũi nhọn đang là một nguy cơ hiển hiện. Nếu hệ thống thể chế không đột phá mạnh mẽ trong việc đào tạo, thu hút và trọng dụng nhân tài am hiểu công nghệ, thì mọi cam kết, thỏa thuận hợp tác quốc tế trên bàn đàm phán ngoại giao sẽ dừng lại ở những bản ghi nhớ mang tính hình thức, không thể chuyển hóa thành giá trị gia tăng thực chất cho lực lượng sản xuất quốc gia.

Phần 4: Khung tổ chức thực thi và định hướng giải pháp: Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp

4.1. Khắc phục bất cập trong công tác nghiên cứu, dự báo và phối hợp liên ngành

Để hiện thực hóa thành công những đột phá tư duy mang tính lịch sử tại Đại hội 14, thách thức lớn nhất đối với Việt Nam không nằm ở việc thiếu hụt đường lối hay quyết sách chiến lược, mà nằm chính ở khâu tổ chức thực thi – điểm nghẽn cố hữu đã kìm hãm không ít nguồn lực phát triển trong nhiều nhiệm kỳ qua. Khoảng cách giữa tầm nhìn lý luận sắc bén trên giấy tờ và năng lực chuyển hóa thành kết quả thực tiễn đang là rào cản trực tiếp làm suy giảm hiệu quả của nền ngoại giao quốc gia.

Thực trạng này đã được thẳng thắn chỉ ra tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 (tháng 8/2026). Mặc dù công tác đối ngoại đã gặt hái nhiều điểm sáng quan trọng, khẳng định uy tín quốc tế ngày càng cao thông qua việc đăng cai thành công Diễn đàn ASEAN, Hội nghị Thượng đỉnh P4G, Lễ ký Công ước Liên hợp quốc về tội phạm mạng, cũng như trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026 - 2028 với số phiếu cao nhất khối châu Á - Thái Bình Dương, nhưng sự trì trệ trong khâu thực thi vẫn bộc lộ những lỗ hổng nguy hiểm. Công tác nghiên cứu và dự báo chiến lược đôi lúc vẫn mang tính mô tả sự kiện thuần túy, thụ động chạy theo tình huống mà chưa đánh giá sâu sắc tác động đa chiều đến an ninh và kinh tế đất nước. Chất lượng tham mưu chính sách giữa các cơ quan còn thiếu tính đồng đều; năng lực nghiên cứu sâu về các lĩnh vực mới nổi như công nghệ chiến lược, kinh tế số, chuyển đổi năng lượng, chuỗi cung ứng và luật pháp quốc tế còn chậm chân so với tốc độ biến động của thời đại. Đặc biệt, tiến trình chuyển đổi số trong ngành ngoại giao cùng hạ tầng kết nối, chia sẻ dữ liệu liên ngành vẫn diễn ra manh mún, khép kín.

Mổ xẻ ở góc độ thể chế và trách nhiệm quản lý, sự trì trệ này bắt nguồn từ tư duy "cục bộ địa phương", tâm lý đùn đẩy trách nhiệm và sự thiếu hụt một cơ chế điều phối liên thông đủ mạnh. Mặc dù Quy chế 392 về quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại và Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về đối ngoại và hội nhập quốc tế đã tạo ra khuôn khổ hành lang pháp lý, nhưng trên thực tế, sự phối hợp giữa các ban, bộ, ngành, địa phương vẫn rơi vào tình trạng "mạnh ai nấy làm". Việc thiếu hụt các cơ chế kiểm tra, giám sát, đôn đốc và quy trách nhiệm cụ thể đối với từng cơ quan trong việc triển khai các cam kết, thỏa thuận quốc tế đã khiến nhiều thỏa thuận cấp cao chậm được cụ thể hóa thành các dự án kinh tế hay thị trường xuất khẩu thực chất. Dưới góc nhìn chính luận nhân văn, mọi sự chậm trễ hay vô trách nhiệm trong khâu thực thi đối ngoại không đơn thuần là một thất bại hành chính, mà là sự lãng phí cơ hội phát triển của dân tộc, trực tiếp tước đi những giá trị sinh kế và sự an toàn của người dân trước các cú sốc biến động từ bên ngoài.

Công tác đối ngoại muốn đi trước mở đường thì nghiên cứu, dự báo phải đi trước một bước. Mỗi báo cáo tham mưu phải trả lời thẳng thắn 4 câu hỏi cốt lõi: Điều gì đang diễn ra? Tác động thế nào đến Việt Nam? Cần làm gì? Ai làm và làm vào thời điểm nào? Kiên quyết xóa bỏ tình trạng "trên nóng, dưới lạnh".

4.2. Xây dựng bộ máy tinh gọn, hiện đại và phát huy tiềm năng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài

Để đáp ứng yêu cầu phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế địa chính trị của đất nước, việc tái cấu trúc bộ máy tổ chức đối ngoại theo hướng tinh gọn, hiệu năng và chuyên nghiệp là đòi hỏi mang tính mệnh lệnh. Sự phân tán nguồn lực, cồng kềnh về tổ chức và sự chồng chéo chức năng giữa 3 kênh đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân cần phải được giải quyết triệt để theo đúng quyết sách của Đại hội 14 về tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị, gắn liền với Nội dung 14 và Nội dung 15 trong Báo cáo chính trị.

Một bộ máy đối ngoại hiện đại chỉ thực sự phát huy sức mạnh khi sở hữu đội ngũ cán bộ "vừa hồng, vừa chuyên", có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy chiến lược sắc bén và am hiểu sâu sắc luật pháp cũng như thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, nhìn thẳng vào thực tế, cơ chế thu hút, đào tạo và trọng dụng nhân tài trong lĩnh vực đối ngoại hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, chưa tạo được động lực mạnh mẽ để khuyến khích cán bộ "dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm". Tình trạng hành chính hóa công tác ngoại giao, tâm lý an toàn, e dè trước các vấn đề mới và phức tạp đã vô tình làm mai một đi tính chiến đấu và sự nhạy bén cần có của người làm công tác đối ngoại.

Song song với việc kiện toàn bộ máy nội tại, một trong những giải pháp mang tính chiến lược là phải giải phóng và phát huy tối đa tiềm năng của cộng đồng hơn 6 triệu người Việt Nam ở nước ngoài – một bộ phận không tách rời và là nguồn lực quan trọng của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Định hướng của Bộ Chính trị về việc ban hành Nghị quyết mới thay thế Nghị quyết 36 về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đòi hỏi phải có sự thay đổi căn bản về tư duy: chuyển từ vận động, kêu gọi chung chung sang kiến tạo các chính sách thu hút thực chất, bảo vệ quyền lợi hợp pháp và tạo hành lang pháp lý thuận lợi để kiều bào đóng góp tri thức, công nghệ và nguồn lực tài chính cho đất nước. Cần xây dựng mạng lưới kết nối chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân kiều bào với các dự án phát triển công nghệ cao, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong nước, biến tiềm năng chất xám của người Việt trên toàn cầu thành sức mạnh nội sinh trực tiếp.

Trọng tâm nhiệm vụ trong giai đoạn tới đòi hỏi ngành đối ngoại phải chủ động chuẩn bị từ sớm, từ xa cho việc đăng cai Năm APEC 2027, đồng thời nâng tầm đối ngoại đa phương từ trạng thái "tích cực tham gia" sang "chủ động đóng góp, xây dựng, định hình các thể chế đa phương" tại ASEAN, Liên hợp quốc, APEC và Hợp tác tiểu vùng Mê Công. Ngoại giao không chỉ là lá chắn bảo vệ an ninh, không chỉ là chiếc cầu nối thu hút nguồn lực, mà phải trở thành ngọn đuốc lan tỏa giá trị văn hóa, bản lĩnh và phẩm giá con người Việt Nam ra thế giới. Khi và chỉ khi xây dựng được một nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, lấy lợi ích quốc gia - dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo tối cao, Việt Nam mới có thể tự tin vươn mình trong kỷ nguyên mới, đứng đàng hoàng trong hàng ngũ các quốc gia phát triển, đóng góp tích cực vào hòa bình, tiến bộ của nhân loại.

Tài liệu tham khảo

I. Nhóm tài liệu về Chính trị, Chiến lược đối ngoại & "Ngoại giao Cây tre"
  • Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
  • Lê Hoài Trung. (2026). Phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế đất nước (Chuyên đề trình bày tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng). Bộ Ngoại giao Việt Nam.
  • Shoji, T. (2026). Vietnam’s “Bamboo Diplomacy”: A Survival Strategy amid Great Power Competition. Security & Strategy, 6, 1–24.
  • Tô Lâm. (2026). Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33. Hà Nội: Bộ Ngoại giao Việt Nam.
  • Trần Quốc Việt. (2026). Tư duy mới về hội nhập kinh tế quốc tế trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Tạp chí Quản lý nhà nước, số 365.
  • Wong, B. (2026). The Future of Sino-Vietnamese Relations post-14th National Congress. China-US Focus.
II. Nhóm tài liệu về Kinh tế, Đầu tư vĩ mô & Phát triển công nghệ (Bán dẫn & Đất hiếm)
  • Ken Research. (2025). Vietnam Semiconductor Market 2030: How Vietnam Is Becoming the USD 220B Chip Bridge Between the U.S., China & ASEAN. Ken Research Intelligence Reports Center.
  • Mirae Asset Securities (Vietnam). (2025). Vietnam Focus: Investment Opportunities for 2026 (Part I: Macro & Strategy, Part II: Sector and Stock Recommendations). Ho Chi Minh City: Mirae Asset Securities Research Center.
  • Pham Hoang Vu. (2024). Vietnam’s Roadmap for High-Tech Investment In Semiconductor. Ho Chi Minh City: Indochine Counsel Project & Infrastructure Department.
  • Rare Earth Mining News. (2026). Vietnam Rare Earth: Reserves, Mining & 2026 Outlook. Rare Earth Intelligence Hub.
  • Rare Earth Exchanges. (2026). Vietnam's Rare Earth Reset: From Ore Exporter to Processing Gatekeeper. REEx Supply Chain Geopolitics Analysis.
  • U.S. Census Bureau. (2026). Trade in Goods with Vietnam (2020–2026 Nominal Trade Statistics). Washington, D.C.: Foreign Trade Division, U.S. Department of Commerce.
  • Vietnam Briefing. (2026). Vietnam Economic Performance in 2025: GDP, FDI, and Trade Outcomes. Dezan Shira & Associates Publications.
III. Nhóm tài liệu về An ninh, Biển Đông & Địa chính trị hàng hải
  • Asia Maritime Transparency Initiative (AMTI). (2025). No Islet Left Behind: Vietnam Reclaims Land at Every Remaining Spratly Outpost. Washington, D.C.: Center for Strategic and International Studies (CSIS).
  • Ian Seow Cheng Wei. (2025). Keep Your Enemies Close: Vietnam’s Security Cooperation with China (RSIS Commentary No. 170). Singapore: S. Rajaratnam School of International Studies, Nanyang Technological University.
  • Snell, G. (2025). Vietnam Nears Completion of Militarized South China Sea Outposts. Defense News (Asia Pacific Division).